Những thực phẩm có tác dụng trị bệnh liệt dương hiệu quả

0

Chim sẻ, chim cút, bộ sinh dục chó, dê, cật heo, răn, rắn, lươn, tắc kè, kỳ nhông, nhộng tằm, hải sâm, hải mã , hoa hẹ, hạt mướp đắng, mè đen…có tác dụng tốt trong việc điều trị bệnh liệt dương.

Tìm hiểu về bệnh liệt dương. Một số bà thuốc trị bệnh liệt dương hiệu quả

1. Chứng trạng

Đông y gọi chứng liệt dương là dương nuy, dương vật không cương lên được, xuất tinh quá sớm; thường kèm theo cơ thể suy nhược, mệt mỏi, ăn ít, hay chóng mặt, đau lưng, mỏi gối.

2. Nguyên nhân gây bệnh liệt dương

Có nhiều nguyên nhân sinh ra chứng này. Thường là do dâm dục quá độ, không điêu tiết nhịp độ quan hệ nam nữ, thủ dâm, đồng tính luyến ái… đến nỗi tinh khí bị hao tổn quá độ tới mức cạn kiệt, mệnh môn hỏa suy.

Ưu tư lo lắng khiếp sợ quá mức hoặc kéo dài ảnh hưởng tới đởm khí, mộc khí mất đi sự điêu đạt khiến cho dương vật không cương lên được.

Những người suy dinh dưỡng mà phải lao động quá sức cũng có thể bị liệt dương. Nói tóm lại nếu không sống có điều độ sẽ làm hao tổn nguyên khí khiến cho tinh bị kiệt thì sẽ mắc chứng này.

Điều đáng nói là chứng này có thể chữa trị nếu sớm biết bồi bổ chân nguyên và kiêng cữ việc trai gái. Khi mắc chứng này không nên quá bi quan mặc cảm.

Tìm hiểu về bệnh liệt dương. Một số bà thuốc trị bệnh liệt dương hiệu quả

Tìm hiểu về bệnh liệt dương. Một số bà thuốc trị bệnh liệt dương hiệu quả

3. Điều nên làm khi bị liệt dương

–    Kiêng cử việc trai gái để tinh khí không kiệt.

–    Tránh các cơ nguyên kích thích tâm thần như phim ảnh khiêu dâm, video “sếch”.

–    Kiêng rượu, cà phê, thuốc lá.

–    Tạo cuộc sống lành mạnh, gần với thiên nhiên.

–   Tập thể dục thường xuyên, lao động vừa sức.

–    Tạo giấc ngủ sâu ở nơi có không khí trong lành.

–    Ăn uống đầy đủ chất bổ dưỡng.

Phép trị: Bồi bổ chân nguyên, tráng dương, tư thận.

Châm cứu: Chi cứu không châm các huyệt: Khi hải quan nguyên, mạng môn, thận du, chí thất, trung quân, túc tam lý, tam âm giao.

Khí hải là biển của khí, nơi phát ra mạch khí của nhân mạch. Nó là nơi hội của khí huyết, là phủ tạng tinh Cửu huyệt này làm tăng chân khí, phục hồi sinh khí, làm mạnh khí nguyên dương. Nó làm cho thủy của bàng quang hóa khí để phân bố khắp cơ thể, tạng phủ.

Quan nguyên là mộ huyết của tiểu trường, hội huyệt của túc tam âm kinh và nhâm mạch, lại là nơi sinh ra khí của tam tiêu, là nơi tàng giữ tinh khí Cửu huyệt này để bố khí, ích tinh, không cho thoát khí.

Trung quân là hội huyết của nhâm mạch, vị kinh, tiểu trường và tam tiểu. Nó lại là mộ huyệt của vị và hội huyệt của lục phủ, cửa trung quản làm mạnh vị khí, điều sướng được trung khí.

Mạng môn, thận du, chi thất là vùng khí phận của thận. Cửu các huyệt này làm ấm thận.

Túc tam lý là hợp huyệt của vị kinh, cứu nó làm thăng dương, ích vị, ôn trung, tán hàn. Hai huyệt trung quản và túc tam lý phối hợp với nhau làm tăng khả năng thăng dương khí và ích vị.

     Tam âm giao là hội huyệt của tỳ kinh, can kinh và thận kinh. Cứu huyệt này làm tư âm kiện tỳ, hoạt huyết. Cứu 3 huyệt trung quản, tức tam lý, tam âm giao làm khởi phát dương khí ở trung tiêu, kiện tỳ, tươi thắm âm dịch làm sung cho vị dịch.

Bài cứu này làm ấm bào cung, mạnh thần khí, khí tiên thiên và hậu thiên đầy đủ.

Bài thuốc

1   – Thận khí hoàn theo Kim quỹ yếu lược

Can địa hoàng (8 lượng), sơn dược (4 lượng), sơn thù du (4 lượng) phục linh (3 lượng), đơn bì (3 lượng), trạch tả (3 lượng), phụ tử (1 củ), quế chi (1 lượng).

–    Can địa hoàng, sơn dược để tư âm cho thận – Sơn thù du, phụ tử để tráng dương cho thận – Phục linh để vận hành thủy đạo – Đờn bì, trạch tả giải độc huyết dịch, thông tiểu.

2   – Thận khí hoàn của Thiên Kim Phương

Giống như phương trên nhưng thay quế chi bằng quế tâm. Phụ tử và quế tâm đều 2 lượng. Thay quế chi bằng quế tâm là thay tính giải bằng ôn hạ. Phương này chuyên ôn bổ khí ở hạ nguyên.

3   – Thận khí hoàn của Tế Sinh Phương

Thục địa (4 lượng), phục linh (3 lượng), sơn dương (2 lượng), sơn thù du (2 lượng), đơm bì (1,5 lượng), trạch tả (1,5 lượng), ngưu tất (1 lượng), xa tiên (1 lượng), phụ tử (5 tiền), nhục quế (5 tiền).

4   – Thanh nga hoàn

Bỏ cốt chi (4 lượng), đỗ trọng (4 lượng), hồ đào nhục (30 trái), đại toán (4 lượng)

Phương này có tính ích tinh, trợ dương, trị thận hư.

5   – Rượu tắc kè (xem bài này)

Món ăn bổ thận

–    Chim sẻ, chim cút – Bộ sinh dục chó, dê, cật heo – Trăn, rắn, lươn, tắc kè, kỳ nhông – Nhộng tằm, hải sâm, hải mã – Hoa hẹ, hạt mướp đắng, mè đen.

Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng