Rau giền có tác dụng chữa bệnh gì?

0

Rau giền có tác dụng thanh nhiệt, trừ thấp, thu liễm, ngừng tả nhiệt, trị lỵ khuẩn. Rau giền chẳng những là thức ăn ngon mà lại có tính thanh nhiệt. Nên dùng cho những người làm việc ngoài nắng.

Công dụng chữa bệnh của rau giền

Rau giền có tên khoa học là Amaranthus sp, họ rau giền.

Người ta còn phân biệt rau giền lá lớn xanh (xanh và tía) và rau giền lá nhỏ (cũng có hai loại xanh tía), còn gọi là rau giền cơm.

Ngoài ra còn có rau giền gai. Rau giền cơm lá nhỏ, nhưng ăn ngọt hơn loại lá lớn.

Rau giền gai có gai xen kẽ nên ít khi dùng, nếu cần phải hái từng lá, tuy mất công nhưng ăn cũng ngon.

Rau giền có vị ngọt nhạt, tính mát, không độc. Thường dùng nấu canh, với tôm hoặc thịt, hoặc luộc chấm muối mè cũng ngon lắm.

Rau giền có vitamin A, vitamin C, riboflavin và acid folio. Đặc biệt nhất là nó có nhiều lysin hơn các rau khác. Lysin là một acid a – min quan trọng.

Rau giền rất khỏe và dễ mọc, nó có thể mọc được ở đất mặn, đất chua, đất kiềm, cũng mọc được cả ở nơi thiếu nước.

Bà con mới đi khai hoang, hoặc sống vùng đất phèn nên sớm trồng rau giền vừa cải tạo đất, vừa sớm có rau ăn.

Trong vòng 20 năm nay, rau giền được các cơ quan liên hợp quốc chú ý và khuyến khích trồng ở nhiều nước.

Rau giền có tác dụng thanh nhiệt, trừ thấp, thu liễm, ngừng tả nhiệt, trị lỵ khuẩn.

Rau giền chẳng những là thức ăn ngon mà lại có tính thanh nhiệt. Nên dùng cho những người làm việc ngoài nắng.

Theo giáo sư Burkirt (1970) vùng dân cư ăn nhiều rau (có chất xơ) có tỷ lệ ung thư đại trường ít hơn vùng dân ăn nhiều thịt. Có lẽ vì thế mà dân Việt Nam ít bị ung thư đại trường.

–    Ăn rau giền để giải độc nọc ong.

Ghi thêm

Hàng năm, vào mùa nắng hạn, thường có dịch ngộ độc rau xanh. Chỉ một ngày 10/5/1993 đã có 22 người vào bệnh viện Trưng Vương cấp cứu tiêu chảy; ngày 23/5/1993 có thêm 23 ca nữa. 1 nguyên nhân tiêu chảy là do ăn rau xanh có dính thuốc trừ sâu.

Thuốc trừ sâu hữu cơ nhóm clor như DDT, Lindan, BHC… là những chất lâu bị phân hủy, có độc tính cao, đã cấm sử dụng.

Ngộ độc cấp tính loại này có các triệu chứng thần kinh như lo lắng, bực bội, co giật, tiêu chảy, nôn mửa… có thể hôn mê và tử vong.

Thuốc trừ sâu hữu cơ nhóm photpho như diazinon, parathion, malathion, furadan, bassa… bị phân hủy nhanh hơn loại trên nhưng độc tính cao.

Triệu chứng ngộ độc cấp tính là đau dạng nôn mửa, tiêu chảy, toát mồ hôi, khó thở, nhịp tim chậm, đồng tử co, nhức đầu, ngủ lơ mơ, co giật, hôn mê…

Người trồng rau chưa được hướng dẫn cặn kẽ nên dùng không đúng thuốc, không đúng nông độ.

Điều quan trọng là phải ngừng xịt thuốc 7 – 10 ngày trước khi thu hoạch. Hem nữa do trời nắng hạn thiểu nước tưới nên thuốc còn tồn đọng nhiêu trên lá rau.

Người tiêu thụ nên tách lá rau khỏi thân cây, để dễ rửa sạch. Ngâm rau trong nước khoảng 15 – 30 phút. Sau đó rửa sạch nhiều lần và nấu chín. Tránh ăn rau sống vào mùa nắng hạn.

Triệu chứng ngộ độc tùy theo loại thuốc trừ sâu và lượng thuốc ăn vào. Đầu tiên là đau bụng, sau đó nôn mửa và tiêu chảy (thượng thổ, hạ thổ), đi tiểu ra nước nhiều lần.

Cơ thể mất nước và chất khoáng nên mệt nhiều. Nhức đầu, ngộp thở, ra mồ hôi. Nặng hơn thì vật vã, ngủ lơ mơ, run môi, run tay chân, đồng tử co nhỏ….

Cơ thể gây bệnh như sau: phosphore hữu cơ ức chế enzymacetylcholin esteraz, làm cho acetylcholin tích tụ gây tác dụng muscarinic và nicotinic.

Cách trị: Uống các chất có tính ngoại hấp (adsorbant) như than hoạt, nhôm hydroxyd: viên than, cốm than, Carbophos (XN 2/9), maloxal…

Dùng khoảng 5g, nhai nát rồi hãy nuốt. Pha một gói Oresul vào 1 lít nước để uống, uống nhiều để bù lượng nước thiếu hụt do tiêu chảy. Có thể uống thêm thuốc tiêu chảy con rồng (XN 24) hoặc imodium, diarsed, loniotil.

Ba loại thuốc cuối chỉ uống một vài viên đủ chống co thắt rồi thôi. (Uống nhiều sẽ bị táo bón về sau). Nếu nặng, bệnh nhân mê mệt, đau đớn quá thì phải đưa ngay vào bệnh viện.

Dùng ngải cứu để hơ nóng các huyệt sau đây: 4 huyệt quanh rốn (trên, dưới và hai bên, cách rốn chừng 3cm); huyệt Trung quản (ở giữa lõm xương ức và rốn, đường giữa thân); huyệt Tam âm giao (ở trên mắt cá chân trong); huyệt Công tôn (ở giữa mặt trong bàn chân).

Đánh giá bài viết này

Chức năng bình luận đã bị đóng