Uống thuốc bắc có cần kiêng gì không?

0

Người tự nhiên ra mồ hôi nên kiêng ma hoàng, hương nhu, bạc hà, tế hợi. Người ra mồ hôi trộm nên kiêng ma hoàng.

Người bệnh khi uống thuốc bắc có phải kiêng kị không?

Có người nói: “Thuốc bắc và thuốc nam không độc, ăn nhiều một chút cũng không sao”. Điều này có đúng không? Nghiêm túc mà nói thì ta không đúng. Thuốc vừa có lợi vừa có hại cho sức khoẻ, nên khi uống nó phải thận trọng.

Đây là sự chắt lọc từ thực tế cuộc sống trong nhiều năm của người xưa. Đó cũng là sự thật, thuốc có tính năng tứ khí ngũ vị tức là lạnh, nóng, ấm, mát và 5 vị là chua, đắng, ngọt, cay, mặn. Dùng thuốc chữa bệnh tức là lấy cái tốt của thuốc để chữa các thiên lệch của cơ thể do bệnh tật gây nên, nên không thể có loại thuốc chỉ có lợi mà vô hại.

Lấy ví dụ cam thảo là vị thuốc thông hành 12 kinh. Nó là “vị thuốc phò tá” bình hoà nhất trong các vị thuốc bắc; có tác dụng bổ trung ích khí, giải độc tiêu đờm, có thể chữa bệnh trung khí không đủ, ho đờm nhiều và nhọt độc. Nhưng nếu uống lâu uống nhiều sẽ tức ngực đầy hơi, chán ăn.

Và như nhân sâm có tác dụng đại bổ nguyên khí, dưỡng dạ dày và làm nhuận, có thể chữa bệnh khí huyết hư tổn, thương tổn tuyến nước mô và tiêu khát, sợ hãi lo lắng, mất ngủ hay quên… Nhưng nếu người đương thịnh, thực nghiệt ngoại cảm uống nó sẽ dễ “thượng hỏa” có thể làm cho buồn bực bất an, chảy máu cam. Cho nên danh y thời nhà Thanh là Từ Đại Xuân cho rằng dùng nhân sâm không hợp lý sẽ gây họa “phá nhà giết người”.

Người bệnh khi uống thuốc bắc có phải kiêng kị không?

Người bệnh khi uống thuốc bắc có phải kiêng kị không?

Hoàng Liên là vị thuốc hạ hỏa tiêu độc, thanh nhiệt tiêu thấp, có thể chữa bệnh thấp nhiệt, đau bụng lị nhiệt, buồn bực buồn nôn, đau tấy mắt đỏ, u sưng nhọt độc… Nhưng nếu uống lâu sẽ đau dạ dày, buồn nôn khó chịu. Đây chính là lí do mà đông y đã chỉ ra là “đắng lạnh làm thương tổn tì vị”. Do vậy, người bệnh một chút kiến thức kiêng kị về đông y là hết sức cần thiết. Dưới đây là một số kiêng kị của đông y về một số bệnh thường gặp để bạn đọc tham khảo.

Người đại tiện lỏng hoặc bị đi chảy nên kiêng dùng hạt ngưu bào, tri mẫu, bột thiên hoa, quả dành dành, sinh địa, tử thảo, rễ sơn đậu, cây lưỡi hổ, cau, trúc, lịch, hoàng dược tử, bách tử nhân, mật ong, nhục phủ du, thịt quả hồ đào, toả dương, đương qui, thục đại, thủ đô, a giao, thiên đông, hoàng tinh, bách hợp, cẩu kỉ tử, quả dâu, hạn liên thảo, nữ trinh tử, ba ba, vừng đen.

Người tì vị hư hàn cần cẩn thận khi dùng thạch cao, tri mẫu, bột thiên hoa, hoàng linh, hoàng bách, long đảm thảo, khổ sâm, sinh địa, huyền sâm, đại thanh diệp, thanh đại, rễ sơn đậu, cây lưỡi hổ, chi thực, xuyên luyện tử, hoàng dược tử, từ thạch, mạch đông, thiên đông, hạn liên thảo, qui bản (mai rùa) ba ba.

Người tự nhiên ra mồ hôi nên kiêng ma hoàng, hương nhu, bạc hà, tế hợi. Người ra mồ hôi trộm nên kiêng ma hoàng.

Người huyết áp cao nên kiêng ma hoàng, cẩn thận khi dùng dương kim hoa. Người bị bệnh tim kiêng dùng ma hoàng.

Người tim đập quá nhanh nên kiêng dùng ma hoàng.

Người hay buồn nôn nên kiêng dùng thương nhĩ tử, hoàng dược tử, hoàng liên (hư hàn).

Người ăn uống kém nên kiêng dùng chi tử, hoàng linh, huyền sâm, rễ sơn đậu, cây lưỡi hổ, phòng kỉ, a giao, mai ba ba.

Các dạng bệnh xuất huyết nên kiêng dùng quế chi (nhiệt thịnh), mật vịt (chảy máu ruột và dạ dày), nhục quế (huyết nhiệt) tam thất (dương hư có nhiệt) xuyên cung, bồ kết (khạc ra máu), lộc nhung (dương nhiệt).

Bệnh hư huyết nên kiêng dùng cảo bản, thương nhĩ tử, ngân sài hồ, toàn hạt.

Phụ nữ thời kì nuôi con nên kiêng dùng đại hoàng, phiên tiết diệp, mạch nha.

Phụ nữ thời kì kinh nguyệt nên thận trọng khi dùng quế chi, đại hoàng, phiêu tiết diệp.

Bệnh thanh manh nên kiêng dùng hạt thanh tương, đương kim hoa, thục địa. Người bị đầy bụng nên kiêng dùng sinh địa, sơn dược, đại táo, đường mạch nha, mật ong, đương qui, thục địa, thịt long nhãn, hoàng tinh, kha tử.

Người tì hư và phù nề nên kiêng dùng lây lộ biên, hạt khiên ngưu, thương lục.

Người bị bệnh gan, thận nên kiêng dùng nha đảm tứ, hoàng dược tử, châu sa, đại phong tử.

Người bị sốt phong hàn ngoại cảm kiêng dùng địa cốt bì, ngân sài hồ, dương kim hoa, hoàng thất, đông trùng hạ thảo, mạch đông, ngũ tị tử, ô mai, ngũ bội tử, rễ ma hoàng, kha tử.

Người bị suy nhược nên thận trọng khi dùng cam túc, đại kích, nguyên hoa, ba đậu, thiên kim tử, uy linh tiên, dương kim hoa, thường sơn, đảm phàm, lê lô, minh phàm, hổ trùng màu.

Người khí hư nên kiêng dùng thanh bì, lại phục tử.

Người bị dị ứng da nên kiêng dùng bạch giới tử.

Người bị viêm loét dạ dày nên thận trọng khi dùng viên chí, tạo phàm (phèn đen).

Người thực chứng, nhiệt chứng nên kiêng dùng nhân sâm.

Phụ nữ có thai nên kiêng dùng đan bì, thận trong khi dùng quế chi, sừng tê ngưu, ngưu hoàng, mộc thông, thông thảo, đông qui tử, gừng khô, chỉ thực, mông thạch (lương ngân hoa, đới giả thạch, băng phiến, mai rùa, mơ xích thạch, kị dùng xạ can, đại hoàng, sulphat natri ngậm nước, phan tiết diệp, cây lưỡi hổ, cam tức, đại kích, nguyên hoa, ba đậu, khiên ngưu tử, thương lục, thiên kim tử, cù mạch, ô đầu, bồ hoàng, nhũ hương, một dược tam lăng, nga thuật, hổ tượng, đào nhân, ngưu tất, xuyên sơn giáp, gián đất, con đỉa, ruồi vàng (manh trùng) vương bất lưu hành, lưu kí nô, tô mộc, can tất, thiên nam tinh, bạch phụ tử, con rết, vũ dư lương, lưu huỳnh phê thạch (thạch tín) bột nhẹ, tạo phàm, hổ trùng màu, thiềm tô, mã tiền tử, long não…

Người bị bệnh thận nên kị dùng thu thạch.

Uống thuốc bắc có cần kiêng gì không?
Đánh giá bài viết này

Chức năng bình luận đã bị đóng