Bệnh suy thận là gì?

0

Với các sinh hoạt bình thường và với sự chăm sóc, giữ gìn của con người thì thận có thể tồn tại và làm việc cho đến khi con người sống đến trăm tuổi. Nhưng cũng như các bộ phận khác trong cơ thể, thận có thể suy yếu hư hao vì nhiều lý do.

Một số bệnh lý thường gặp và dinh dưng liên quan ti bệnh thận

–    Bệnh suy thận

Một số bệnh lý thường gặp và dinh dưỡng liên quan tới bệnh thận
Bệnh thận gây nhiều phiền toái

Bệnh suy thận là gì?

Với các sinh hoạt bình thường và với sự chăm sóc, giữ gìn của con người thì thận có thể tồn tại và làm việc cho đến khi con người sống đến trăm tuổi. Nhưng cũng như các bộ phận khác trong cơ thể, thận có thể suy yếu hư hao vì nhiều lý do.

Chức năng bài tiết của thận giảm một cách tự nhiên theo nhịp độ hóa già của cơ thể. Tới tuổi 70 thì con số tiểu cầu thận giảm, lượng máu qua thận cũng bớt đi và thận đã có một vài khó khăn đáp ứng với sự thay đổi hóa chất trong máu. Bình thường, thận có thể tiếp tục nhiệm vụ bài tiết dù chỉ còn lại vài chục phần trăm tiểu cầu lọc. Các tiểu cầu này sẽ lớn lên và làm việc gấp đôi gấp ba để bù đắp cho các tiểu cầu đã hư hao.

Thận có thể bị viêm do các tác nhân hóa học dược phẩm, vật lý hay tác nhân gây nhiễm. Bệnh ngoài thận như tiểu đường, cao huyết áp, hoặc một cản trở lưu thông máu tới thận cũng đủ để làm thận không làm việc được.

Hậu qu của bệnh suy thận:

Hậu quả của suy thận là sự ứ đọng các chất bã trong máu, nhất là loại urea, sản phẩm phụ của dinh dưỡng đạm chất.

Thận suy từ từ, lúc đầu hầu như không có dấu hiệu, rồi một số bệnh nhân cảm thấy hơi mỏi mệt, hay đi đái ban đêm vì thận không còn khả năng cô đọng nước tiểu, bàn chân hơi sưng, huyết áp hoi lên cao, hồng cầu hoi giảm.

Khi bệnh trầm trọng thì các biến chứng cũng leo thang: Huyết áp cao vọt, nhịp tim loạn, thiếu hồng cầu, xương yếu dễ gãy, xuất hiện bao tử, băng huyết vì máu loãng, mất chất dinh dưỡng. Khoáng sodium và potassium bị giữ lại trong cơ thể. Nhiều sodium quá đưa đến cao huyết áp, sưng phù chân. Potssium cao làm nhịp tim đập loạn.

Bệnh nhân ói mửa, sút cân, trở nên yếu dần nếu không được chữa chạy kịp thời. Khi đã đến giai đoạn cuối của thận suy thì chỉ còn cách thay thận hoặc thẩm tách huyết (Hemodialysis) mà một trong nhiều công dụng là để loại bỏ potassium và urea quá cao trong máu.

Dinh dưỡng với bệnh suy thận:

Dinh dưỡng trong suy thận có vai trò quan trọng và tập trung vào các mục đích sau đây:

–    Tránh cho thận khỏi làm việc quá sức

–    Tránh suy dinh dưỡng mà vẫn giữ sức nặng bình thường của cơ thể.

–    Tránh mất thăng bằng khoảng sodium và potassium

–    Tránh máu nhiễm hóa chất bã ure.

Cặn bã của đạm chất trong chuyển hóa là urea mà thận phải loại ra ngoài. Ăn càng nhiều đạm chất thì cặn bã urea càng cao và thận càng phải làm việc khó nhọc hơn để bài tiết ra ngoài. Tiêu thụ chất đạm tăng hay giảm tùy theo tình trạng suy thận. Với suy thận kinh niên thì có việc hạn chế chất đạm trong phần ăn.

Chất đạm cho người bệnh phải có phẩm chất tốt với đầy đủ các loại amino acid. Thịt động vật hội tụ đủ điều kiện này hơn chất đạm từ thực vật. Nhưng người bệnh vẫn cần một số calories căn bản, nên khi giảm đạm, ta có thể tăng carbohydrates hoặc chất béo loại không bão hòa.

–    Sỏi calcium oxalate

Một số bệnh lý thường gặp và dinh dưỡng liên quan tới bệnh thận
Sỏi thận

Trước đây người bệnh thường được khuyên bớt ăn thực phẩm chứa nhiều calcium để giảm nguy cơ sạn thận. Nhưng thực ra, sự liên hệ không hoàn toàn như vậy. Cao calcium trong nước tiểu có thể do hoặc không do nhiều calcium trong máu.

Một vài bệnh như chứng tăng Chức Năng Tuyến Cận Giáp (Hyperparathyroidism), rối loạn dư thừa sinh tố D, u bướu xương, bệnh sarcoidosia đều làm tăng calcium trong máu và đều là nguyên nhân đưa tới sạn trong thận. Chữa bệnh này sẽ làm giảm calcium trong máu và nước tiểu.

Nhiều khi calcium trong nước tiểu cao là do sự hấp thụ từ thực phẩm trong một vài bệnh của ruột (bệnh Crohn, suy tụy tạng) hoặc khi dùng quá nhiều sinh tố C (sinh tố này được biến hóa ra oxalatc) hoặc do thận rỉ calcium ra ngoài.

Nếu là do hấp thụ từ ruột thì sự hạn chế thực phẩm có oxalate calcium giúp ích cho việc điều trị. Thực phẩm có nhiều oxalate là rau spinach, quả dâu, súc cù là, quả hạch (nuts), trà.

Nhiều chuyên gia khuyên cắt bớt sự tiêu thụ calcium. Nhưng xin cẩn thận lấy ý kiến của bác sĩ trước, vì hạn chế quá cơ thể sẽ rút calcium ở xương và làm xương suy yếu, dễ bị gãy. Có ý kiến khác cho là sự giới hạn này có thể làm tăng nguy cơ bị sỏi oxalate, vì calcium cao sẽ giúp gia tăng sự hấp thụ oxalate trong ruột và giảm sỏi oxalate trong nước tiểu.

–    Sỏi uric acid

Uric acid là do sự chuyển hóa của chất purrine trong chất đạm động vật và một số thực phẩm khác mà ra. Uric acid trong nước tiểu cũng lên cao ở người bệnh thống phong (gout), khi uống nhiều thuốc asprin, probenecid. Do đó, khi hạn chế thực phẩm có nhiều purine sẽ làm giảm nguy cơ sạn này rất nhiều.

Thực phẩm có nhiều purine là: Gan, óc, tim, thận động vật, cá herring, bia, rượu vang, thịt, đậu, rau cauliflower, nấm, tôm, cá…

–    Sỏi struvite

Một số bệnh lý thường gặp và dinh dưỡng liên quan tới bệnh thận
Bệnh sỏi thận

Gồm các hóa chất ammonium, magnesium và phosphate. Và thường thấy ở nữ giới. Bệnh thường do nhiễm vi khuẩn đường tiểu tiện với các loại Proteus hoặc Klebsiella, khiến chất urca phân hóa thành các tinh thể ammonium, tinh thể tụ lại với nhau và đưa tới sạn thận.

Bệnh sỏi này thường được chữa bằng thuốc kháng sinh để tiêu diệt nhiễm trùng hoặc bằng giải phẫu. Dinh dưỡng không có vai trò gì trong loại sỏi này.

Khuyến cáo v dinh dưng cho người bị bệnh thận:

Trong tất cả các trường hợp sỏi thận, số lượng nước tiêu thụ hàng ngày có vai trò rất quan trọng. Nước uống làm nước tiểu loãng và ngăn ngừa các tinh thể gây sỏi kết tụ với nhau. Cho nên, mỗi ngày, người bị bệnh sỏi thận cần uống ít nhất tám ly nước hoặc nhiều hơn.

Xin lưu ý là một số thực phẩm làm thay đổi mức độ kiềm hoặc acid của nước tiểu (chỉ số pH) và có ảnh hưởng tới sự kết tinh các hóa chất trong sỏi thận.

Rau, trái cây, sữa làm nước tiểu có độ kiềm.

Thực phẩm có nhiều chất đạm như thịt, cá, trứng, pho mát, trái plumb, prunes, ngô, đậu lentils làm nước tiểu có độ acid.

Ăn càng nhiều đạm chất thì cặn bã urea càng cao, và thận càng phải làm việc khó nhọc hơn để bài tiết ra ngoài. Tiêu thụ chất đạm tăng hay giảm tùy theo tình trạng suy thận… Với suy thận kinh niên thì có việc hạn chế chất đạm trong phần ăn.

Chất đạm cho người bệnh phải có phẩm chất tốt, với đủ các loại amino acid. Thịt động vật hội đủ điều kiện này hơn chất đạm từ thực vật. Nhưng người bệnh vẫn cần một số calories căn bản, nên khi giảm đạm, ta có thể tăng carbohydrates hoặc chất héo loại chất bão hòa.

Vì suy thận có khuynh hướng giữ sodium và potassium trong máu, nên trong thực phẩm cần giới hạn hai muối khoáng này để tránh phù nước và các biến chứng khác.

Sự hấp thụ calcium tùy thuộc vào mức độ phosphore trong máu. Trong suy thận, phosphore bị giữ lại, đưa đến giảm calcium. Mà không thể tăng calcium lại không tăng phosphore trong thực phẩm nên người suy thận cần uống thêm khoảng 500mg calcium mỗi ngày, có thể tránh được biến chứng suy yếu ở xương.

Nước uống cũng cần được cân bằng với nước mất đi qua tiểu tiện, đổ mồ hôi, hơi thở…

Ngoài ra, người bệnh cũng cần dùng thêm các sinh tố C, B, acid folic mà không cần uống thêm các sinh tố hòa tan trong mỡ như sinh tố A, E, K.

Tuy nhiên, không chỉ phụ thuộc vào bệnh lý thận mà còn phụ thuộc vào tùy từng bệnh nhân cụ thể, tuổi, giới, cân nặng và vào giai đoạn tiến triển của bệnh.

Một chế độ dinh dưỡng cho người suy thận rất phức tạp, nên người bệnh cần phải lấy ý kiến của chuyên viên dinh dưỡng cũng như từ bác sĩ đang săn sóc mình. Mỗi cá nhân cần một khẩu phần riêng biệt, thích hợp với bệnh tình của mình.

Đánh giá bài viết này

Chức năng bình luận đã bị đóng