Bệnh viêm khớp vẩy nến và những điền bạn cần biết

0

Viêm khớp vẩy nến xảy ra khi hệ miễn dịch của cơ thể bắt đầu tấn công các tế bào khỏe mạnh và mô. Các phản ứng miễn dịch bất thường gây ra viêm khớp xương cũng như sản xuất quá mức của các tế bào da.

1. Thế nào là bệnh viêm khớp vẩy nến

Viêm khớp vẩy nến là một bệnh lý kết hợp thương tổn vẩy nến ở da hoặc móng và tình trạng viêm khớp ở các khớp ngoại biên và hoặc viêm khớp cột sống.

2. Tỉ lệ mắc bệnh viêm khớp vẩy nến

Bệnh vẩy nến chiếm tỉ lệ khoảng 1-2% dân số. Khoảng 7% các trường hợp vẩy nến trong diễn tiến có xảy ra viêm khớp. 30% trong số này có viêm khớp cùng chậu.

Tỉ lệ viêm khớp vẩy nến giữa nam : nữ là 1 : 1 (tỉ lệ này cũng ngang nhau giữa nam và nữ trong vẩy nến không biến chứng khác với viêm khớp dạng thấp có xu hướng trội ở nữ hơn).

Xem thêm: Tìm hiểu chi tiết về bệnh mề đay thường gặp ở nam giới

noi-me-day-khi-troi-lanh.jpg

benh-viem-khop-vay-nen-va-nhung-dien-can-biet

Bệnh viêm khớp vẩy nến và những điền cần biết

3. Nguyên nhân gây bệnh viêm khớp vẩy nến

Bệnh khớp vẩy nến có thể do một sự kết hợp giữa yếu tố di truyền và yếu tố môi trường, về mặt di truyền thì có lẽ không theo quy luật Mendel. Còn về yếu tố môi trường thì có nhiều yếu tố bao gồm các chấn thương thực thể, tâm lý và nhiễm trùng.

4. Triệu chứng lâm sàng bệnh viêm khớp vẩy nến

4.1: Biểu hiện ở hệ thống da,lông,tóc,móng

a. Da:

Thương tổn da điển hình bao gồm những mảng dạng vẩy màu hồng trên mặt duỗi của chân, tay, hình dạng có thể thay đổi từ dạng hình vòng tròn, hình giọt hoặc thậm chí những mảng tróc vẩy. Điểm quan trọng là thương tổn có thể nhỏ (đường kính vài mm) hoặc “ẩn”. Da đầu là một vị trí thường gặp tổn thương dạng “ẩn” nhất, nhưng cũng có thể tìm thấy ở dưới vú, kẽ mông hoặc trong rốn.

b. Móng:

Loạn dưỡng móng xảy ra trong khoảng 80% các trường hợp với tình trạng da không biến chứng.

Những thay đổi kinh điển trên móng thường là rỗ như châm kim , bong móng và một số biểu hiện khác như là mất màu móng, dầy móng…

benh-viem-khop-vay-nen-va-nhung-dien-can-biet-1

Thương tổn da điển hình bao gồm những mảng dạng vẩy màu hồng trên mặt duỗi của chân, tay

 4.2: Biểu hiện ở khớp

– Kiểu thường gặp nhất là viêm một vài khớp, không đối xứng, liên quan chủ yếu đến các khớp liên đốt ngón gần, liên đốt ngón xa, đốt bàn ngón tay. Dạng nhẹ của kiểu viêm khớp này có thể gây bỏ sót trong việc tìm chẩn đoán.

– Viêm khớp vẩy nến hầu như có vẻ không khác gì viêm khớp dạng thấp.

– Dạng kinh điển sách vở thường nói ít gặp hơn những biểu hiện ở trên – có thể gây tổn thương lan rộng ra khớp liên đốt xa. Mặc dù đặc trưng nhưng nó chỉ được nhấn mạnh trước đây vì nó chỉ xảy ra ở khoảng 5% các bệnh nhân viêm khớp vẩy nến.

–    Ngón tay “xúc xích” có thể xảy ra ở bàn tay hoặc bàn chân và nó có thể xảy ra ở tất cả các ngón tay, ngón chân hoặc chỉ khu trú ở một ngón tay hoặc một ngón chân. Có thể do viêm khớp liên đốt kết hợp với viêm bao gân gấp.

– Viêm nhiều khớp hiếm khi xảy ra. Dạng này có thể có bào mòn nhiều, rộng dẫn đến ngón tay có dạng như ống nhòm (“ngón tay ông nhòm”), hoặc dính khớp, dẫn đến bàn tay cứng, quặp hình vuốt.

– Viêm cột sống dính khớp.

Hình ảnh X-quang

Thường thì không thấy hình ảnh gì đặc biệt hơn ngoài hình ảnh sưng mô mềm quanh khớp, bào mòn nhẹ quanh khớp hoặc hẹp khe khớp với biến dạng ít hoặc không biến dạng. Bên cạnh đó cũng có một số hình ảnh ít phổ biến hơn trên X-quang  có thể tham khảo ở hình 46 – bao gồm:

– Sự bào mòn các đầu tận của xương các ngón tay (sự tiêu hủy đầu xương)

– “Gai nhọn” ở các xương ngón tay, xương bàn tay và xương bàn chân.

– Các “lõm gai” ở đầu gần các xương đốt ngón tay. Sự có mặt đồng thời hai hình ảnh “gai nhọn” và “lõm gai” vừa nêu trên tạo thành biến dạng với hình ảnh bút chì cắm vào tách (quen được gọi là pencil-in-cup) hay một hình tượng khác tương tự  cây nấm.

– Dính khớp các đốt ngón tay, đốt bàn tay và đốt bàn chân.

– Hủy hoại nặng một số khớp nhỏ riêng lẻ.

– Khớp thường bị tổn thương trước hết là khớp liên đốt gần và khớp liên đốt xa; khớp đốt bàn tay và bàn chân thường ít bị tấn công hơn (khác với viêm khớp dạng thấp).

–    Có xu hướng bị tổn thương ở bàn chân trước bàn tay, cũng giống như trong bệnh Reiter.

–    Thường ít bị loãng xương hơn so với viêm khớp dạng thấp.

– Viêm khớp cùng chậu (hình 47-48) và thậm chí có thể là viêm cột sống dính khớp thật sự điển hình hoặc tương tự viêm cột sống dính khớp tự phát.

5. Xét nghiệm cận lâm sàng

Xét nghiệm yếu tố thấp âm tính HLA Cw6 có liên quan đến bệnh “vẩy nến”, HLA DR7 liên quan đến viêm khớp ngoại biên, HLA DR3 liên quan đến viêm khớp bào mòn, và HLA B27 liên quan đến viêm khớp cùng chậu.

6. Chăm sóc, quản lý, điều trị

–  Các triệu chứng về hệ da lông tóc mỏng có thể được chăm sóc điều trị tương tự như trong các bệnh lý da độc lập khác.

–    Các triệu chứng của thấp – viêm khớp ngoại biên và/hoặc viêm cột sống – được quản lý, chăm sóc tương tự như các trường hợp không liên quan đến vẩy nến. Cố tránh dùng thuốc nhóm corticoid, kháng sốt rét. cần phải chăm sóc cẩn thận, chu đáo để tránh nhiễm trùng hậu phẫu.

Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng