Các triệu chứng thường gặp của ung thư phổi và các phương pháp chẩn đoán

0

Trong khoảng từ 5 đến 15 phần trăm các trường hợp ung thư phổi, khối u ung thư được khám phá trên hình quang tuyến phổi, trong khi bệnh nhân không có triệu chứng gì cả.

1. Triệu chứng ung thư phổi

Trong khoảng từ 5 đến 15 phần trăm các trường hợp ung thư phổi, khối u ung thư được khám phá trên hình quang tuyến phổi, trong khi bệnh nhân không có triệu chứng gì cả.

Tuy nhiên, 85 đến 95 phần trăm các bệnh nhân ung thư phổi có một hoặc nhiều hơn các triệu chứng sau đây:

–    Ho

–    Ho ra máu

–    Khò khè

–    Hụt hơi

–    Khó chịu trong lúc thở

–    Đau ngực

–    Có các triệu chứng của bệnh viêm phổi (như là sốt, ho có đòm)

–    Khó chịu trong lúc nuốt

–    Khàn giọng

–    Sụt cân và chán ăn

–    Ngoài ra, có thể có các triệu chứng do di căn, như là tới não, tới xương, v.v.

Các triệu chứng kể trên có thể là của ung thư phổi, tuy nhiên, nhiều bệnh khác cũng có thể có một số triệu chứng tương tự. Điều quan trọng là phải đến bác sĩ khám bệnh.

Thuốc lá có ảnh hưởng như thế nào đến bệnh ung thư phổi

Nói chung, những người hút thuốc có nguy cơ bị ung thư phổi cao gấp 13 lần so với những người không hút thuốc. Hút càng nhiều và càng lâu năm thì nguy cơ bị ung thư phổi sẽ càng cao.

Những người không hút nhưng bị hít khói thuốc một cách thụ động cũng bị tăng nguy cơ ung thư phổi.

2. Chẩn đoán ung thư phổi

Để tìm ra nguyên nhân gây ra những triệu chứng, bác sĩ phải xem xét tiền sử của người bệnh, tiền sử hút thuốc, tiếp xúc với các chất ở môi trường tự nhiên và môi trường lao động, tiền sử ung thư của gia đình. Bác sĩ khám bệnh và có thể cho chụp X – quang lồng ngực và làm các xét nghiệm khác.

Nếu nghi ngờ ung thư phổi thì xét nghiệm tế bào trong đờm (quan sát dưới kính hiển vi những tế bào lấy từ mẫu dịch nhầy ở phổi khi ho) là một xét nghiệm đơn giản mà có thể có ích cho việc phát hiện ra bệnh ung thư. Để chẩn đoán xác định ung thư phổi, bác sĩ phải nghiên cứu mô phổi.

Các triệu chứng thường gặp của ung thư phổi và các phương pháp chẩn đoán ung thư phổi
Các triệu chứng thường gặp của ung thư phổi và các phương pháp chẩn đoán ung thư phổi

Sinh thiết – việc lấy một mẫu mô nhỏ ở phổi để chuyên gia mô bệnh học quan sát dưới kính hiển vi – có thể cho biết một người có bị ung thư hay không. Một số thủ thuật được thực hiện để có thể lấy được mẫu bệnh phẩm này:

Nội soi phế quản. Bác sĩ đưa một ống soi phế quản (một ống nhỏ có nguồn sáng) vào miệng hoặc mũi và luồn xuống khí quản để quan sát các đường hô hấp. Qua ống này bác sĩ có thể lấy các mẫu tế bào hoặc mẫu mô nhỏ.

Chọc hút bằng kim. Một mũi kim được đâm xuyên qua thành ngực vào khối u để lấy mẫu mô.

Chọc dịch màng phổi. Dùng kim lấy mẫu dịch bao quanh phổi để tìm tế bào ung thư.

Mở lồng ngực. Đôi khi cần phải tiến hành phẫu thuật mở lồng ngực để chẩn đoán ung thư phổi.

Đa số bệnh nhân ung thư phổi lúc đầu đều ho khan hoặc ho có đờm, thường vào buổi sáng. Ho kéo dài, các thuốc chống viêm, trị ho không có tác dụng. Một nửa số người bệnh ho ra ít máu lẫn đờm.

Bệnh nhân ung thư cũng thường bị đau ngực. Thường không có điểm đau rõ rệt, đau bên có tổn thương giống viêm dây thần kinh liên sườn. Có khi đau quanh bả vai, mặt trong cánh tay.

Hiện tượng khó thở chỉ gặp khi khối u chèn ép hoặc làm tắc khí phế quản, gây xẹp phổi, hoặc ung thư đã di căn màng phổi gây tràn dịch màng phổi. Ngoài ra, bệnh nhân còn bị khó nói hoặc nói giọng khàn do khối u chèn ép vào dây thần kinh, khó nuốt do thực quản bị chèn ép, gầy sút, sốt nhẹ…

Việc chụp phổi bằng kỹ thuật X – quang thông thường, chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ có thể cho thấy khối u ở vị trí nào của phổi, kích thước bao nhiêu. Để chẩn đoán đúng và phân loại ung thư, góp phần quyết định phương pháp điều trị, cần xét nghiệm mô bệnh học và tế bào học.

Để phát hiện sớm ung thư phổi, nam giới từ 40 tuổi trở lên nếu nghiện thuốc lá kèm ho khan hoặc có đờm kéo dài nên đến bệnh viện 4 tháng một lần để chiếu chụp phổi, lấy đờm, dịch phế quản làm xét nghiệm tế bào học (5 – 8% số người đi khám được phát hiện ung thư phổi sớm).

Ở cả hai giới từ 40 tuổi trở lên, nếu có các dấu hiệu sút cân, ho kéo dài hoặc ho ra máu, đau ngực, khó thở, khó nói hoặc khó nuốt thì cần đi khám và làm các xét nghiệm.

Về điều trị, tùy theo từng bệnh nhân, bác sĩ sẽ chỉ định phẫu thuật (cắt phân thùy phổi, thùy phổi, thậm chí toàn bộ lá phổi có khối u, lấy bỏ hạch di căn nếu có) hoặc điều trị tia xạ (đơn thuần hay phối hợp) và dùng thuốc.

Cách phòng ngừa ung thư phổi là tạo môi trường sống sạch đẹp, bầu không khí trong lành; không hút thuốc lá, điều trị khỏi những bệnh của phế quản, phổi như viêm phế quản mạn, lao phổi. Ở tuổi 40 trở lên, nên đi khám bệnh, chụp X – quang phổi định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm.

3. Chẩn đoán sớm ung thư phổi dựa vào xét nghiệm máu

Các nhà khoa học Đức cho biết đã tìm ra một phương pháp giúp chẩn đoán bệnh ung thư phổi từ giai đoạn rất sớm, dựa vào nồng độ chất pleiotrophin trong máu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở bệnh nhân ung thư phổi, hàm lượng chất này tăng 11 lần so với những người khỏe mạnh.

Nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Phillipps ở Marburg (Đức) đã tiến hành nghiên cứu trên 85 bệnh nhân bị hai dạng ung thư phổi và 41 người tình nguyện khỏe mạnh (nhóm đối chứng).

Kết quả cho thấy:

–    Chỉ 1 người trong nhóm đối chứng có nồng độ pleiotrophin tăng cao, trong khi tỷ lệ này là 87% ở các bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ và 63% ở những bệnh nhân còn lại.

–    Mức tảng pleiotrophin tương ứng với độ nặng của bệnh: Ở bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối, nồng độ chất này tăng 62% so với người bệnh giai đoạn đầu.

–    Pleiotrophin giúp đánh giá đáp ứng điều trị của người bệnh: Nồng độ pleiotrophin giảm đáng kể ở những ca bệnh đang thoái lui và vẫn tăng cao ở những người không đáp ứng với điều trị.

Theo bác sĩ Zugmaier, trưởng nhóm nghiên cứu, bệnh ung thư phổi thường được chẩn đoán quá muộn, với nguy cơ tử vong rất cao. Vì vậy, thử nghiệm máu giúp phát hiện sớm bệnh, khi còn khả năng điều trị, sẽ là một bước tiến đánh kể.

4. Pleiotrophin và ung thư phổi

Pleiotrophin được coi là một yếu tố quan trọng trong sự lan truyền ung thư, vì nó kích thích tế bào phân chia và làm tăng nguồn cung cấp máu cho khối u.

Tại các nước phát triển, ung thư phổi là một trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu. 9 trên 10 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi sẽ bị chết. Bệnh thường chỉ được phát hiện khi đã di căn sang cơ quan khác và không còn đáp ứng tốt với hóa trị liệu.

Hút thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư phổi. Ho, khạc ra máu, khó thở hoặc thở khò khè có thể là những biểu hiện của bệnh.

Ung thư phổi tế bào nhỏ là một bệnh lý tiến triển rất nhanh, chiếm 20 – 25% các bệnh ung thư phổi.

Đánh giá bài viết này

Chức năng bình luận đã bị đóng