Những món ăn phòng bệnh đái đường hiệu quả

0

Những món ăn này vừa là bài thuốc, vừa trị bệnh tâm lý giúp người bệnh yên trí là mình ăn, chứ không phải uống thuốc, thực hiện phương châm “ăn là cách dùng thuốc hay nhất”.  Do đó chúng tôi trình bày bệnh đái đường gần với các món ăn để dễ tham khảo.

Theo tây y, bệnh đái đường là do tụy tạng không tiết ra chất insulin để điều hòa lượng đường glucoz trong máu. Khi lượng glucoz trong máu cao thì nước tiểu cũng có đường nên gọi là bệnh đái đường. Theo thống kê, trên thế giới có 50 triệu người bị bệnh đái đường.

Theo đông y, bệnh đái đường thuộc chứng tiêu khát. Bệnh này là do hao tổn chân âm, thận thủy suy không khắc chế được hỏa khiến cho các tạng tâm phế, vị và thận khô ráo, tam tiêu khô nóng.

Bệnh của tam tiêu rất phức tạp, bệnh chứng thay đổi, tùy theo bệnh thiên về thượng tiêu, trung tiêu hay hạ tiêu.

1   –Bệnh ở thượng tiêu:

Bệnh do tâm hỏa nung nấu phế kim làm cho phế âm hư, gây chứng khát. Bệnh nhân khát liên tục, vừa uống nước xong đã thấy khát. Họng khô, lưỡi đỏ, rêu lưỡi ít, mạch sắc.

2   – Bệnh ở trung tiêu:

Tỳ thuộc thấp tổ, vị thuộc táo khổ. Tam tiêu khô ráo làm cho vị cường. Vị cường sẽ tuyệt giao với tỳ. Khiến tỳ không nhu nhuận và không hoàn thành chức năng chuyển hóa tân dịch, cho nên bệnh nhân thấy khát liên tục.

Vị cương cho nên ăn hoài không thấy no. Nội kinh tố vấn có câu: “Vị và phúc bị bệnh, ăn cả đấu gạo cũng không no. Thận khát, uống cả trăm ly nước cũng không hết khát”.

Bệnh do vị âm hư nên hỏa vượng, gọi là vị huyết nhiệt. Bệnh nhân ăn nhiều uống nhiều, nước tiểu vàng đỏ, người gầy đi rất nhanh. Bênh nhân thấy mau đói, mau khát, miệng khô, lưỡi khô, đái nhiều, đại tiện tháo, lưỡi đỏ, rều lưỡi vàng, mạch huyết sắc.

3   – Bệnh ở hạ tiêu:

Bệnh này do thận âm hư không tàng trữ được tinh hoa của ngũ cốc làm tiểu ra chất đường. Nước tiểu đục và đặc, phiền khát, uống nước nhiều, hồi hộp, lâu dần vành tai đen xám.

Nếu thận âm hư thì bàn tay lạnh, chân nóng, lưỡi dỏ không rêu, mạch bế sắc.

Nếu thận dương hư thì tay chân lạnh, mệt mỏi, người gầy, mạch tế sắc vô lực.

Bệnh có thể chỉ thiên về thượng tiêu, trung tiêu hay hạ tiêu, nhưng cũng có thể bao gồm hai hay cả ba tiêu.

Như vậy theo đông y, đái đường chỉ là một trong các chứng bệnh của bệnh tiêu khát.

Muốn chữa bệnh tiêu khát, chúng ta nên trị ngọn và trị gốc. Trị ngọn là chữa các chứng khát nước, đói, tiểu nhiều. Trị gốc là bổ chân thủy. Vị thủy suy không khắc chế được hỏa, hỏa thừa cơ nung nấu tạng phủ, làm nóng tam tiêu. Bổ âm để cân bằng với dương, âm dương điều hòa thăng bằng thì mọi trứng trạng đều yên cả.

Dù dùng thuốc tây hay thuốc nam thì cũng phải dùng thuốc dài hạn mới mong bệnh trạng thuyên giảm. Song song với uống thuốc, khẩu phần dinh dưỡng cũng đóng một vai trò quan trọng. Vấn đề ăn uống làm bận tâm khiến cho người bệnh luôn luôn bị ám ảnh bệnh hoạn.

Mà theo đông y, sang trấn tinh thần, lo âu cũng là một trong các nguyên nhân gây bệnh tiêu khát. Trong phần đầu, chúng tôi có nêu một số món ăn dùng cho người bệnh tiểu khát.

Một số món ăn phòng bệnh đái đường hiệu quả

Một số món ăn phòng bệnh đái đường hiệu quả

Những món ăn này vừa là bài thuốc, vừa trị bệnh tâm lý giúp người bệnh yên trí là mình ăn, chứ không phải uống thuốc, thực hiện phương châm “ăn là cách dùng thuốc hay nhất”.  Do đó chúng tôi trình bày bệnh đái đường gần với các món ăn để dễ tham khảo.

Bệnh nhân có thể dùng các món ăn trị bệnh đái đường, vừa uống thuốc hóa dược. Tuy nhiên không nên dùng cùng lúc mà nên uống thuốc xa bữa ăn.

Dù với cách chữa trị nào, bệnh nhân cũng nên kiên nhẫn dùng thuốc dài hạn và thường xuyên kiểm tra lượng đường trong máu, đồng thời kiêng cữ ăn uống đúng cách.

Mắc bệnh tiểu đường nên theo một chế độ ăn uống kiêng cữ như sau:

A – Giảm chất bột:

Không dùng đường, đồ ngọt như bánh kẹo, sữa đặc, mật ong, mứt trái cây; không nên ăn nhiều cơm, bánh mì, bún, bánh cam, bánh bông lau…

B – Chất béo:

Không nên ăn các món ăn xào, chiên và các loại nước sốt, phải hạn chế các món ăn có nhiều chất béo như bơ, da gà, vịt, trái bơ. Khi muốn ăn thịt thì phải cắt bỏ hết mỡ.

Khi làm món xào cũng chỉ nên dùng một lượng thật nhỏ dầu thực vật như dầu bắp, dầu mè, dầu đậu phộng, nướng thịt tốt hơn, chiên xào.

C – Món ăn:

Dù là cơm gạo, bánh mì, mì sợi, mì, miến hoặc các sản phẩm ngũ cốc khác cũng phải nên giữ điều độ – cụ thể là không quá một bát (tô nhỏ hoặc chén) cơm hoặc mì, không quá 2 lát bánh mì hoặc 2 cú khoai tây cỡ vừa. Nên ăn đúng bữa, chớ bao giờ bỏ ăn bữa trước rồi ăn bù bữa sau với số lượng gấp đôi.

D – Có thể dùng tự do các loại rau sà lách, cần tây, cải xanh, bắp cải, cải lan, củ cải, dưa leo, bí đao, bông cải, cà tím, đậu đũa, măng tây, măng ta, cà chua, bí rợ, đậu hòa lan, các loại nấm và giá đậu.

E – Đ uống:

Không uống loại nước ngọt bán sẵn, có thể dùng nước trái cây không thêm đường, cũng có thể dùng các loại đường hóa học như saccharin và sucryl trong khi nấu ăn, uống trà, cà phê.

F- Không nên uống bất cứ loại nước nào có chất cồn trừ phi được bác sĩ điều trị cho phép.

G – Chng khát nước:

Dùng các chất có tính thanh nhiệt, giải khát, sinh tân dịch. Các chất này có thể phân loại như sau:

1 – Loại củ: sắn dây, củ cải, củ đậu, củ năng.

2 – Quả: dưa gang, dưa hấu, bí đao, bầu, khổ qua.

3 – Rau: ngó sen, giá đậu, rau má, mồng tơi, lá dâu. bắp cải, hoa lẹ.

4 – Hạt: đậu ván, đậu xanh.

H – Chống đói:

Dùng các chất thịt và các chậm tiêu, làm giảm cảm giác đói.

1   – Thịt bò, thịt heo, thịt gà.. nướng

2   – Nghêu, sò, hào, hến.

3   – Ốc bươu, bào ngư, hải sâm.

4   – Cá diếc, cá trạch.

5   – A giao, sụn, móng bò, thạch và sương sâm (không đường)

6   – Nước ươm tơ tằm, nước cây chuối.

I    – Dưỡng âm:

Phương pháp chữa bệnh căn bản là dưỡng âm, thanh nhiệt, sinh tân dịch và lấy bổ thận âm là chính.

Phần âm của cơ thể gồm phế âm, vị âm và thận âm. Khi phần âm của cơ thể bị suy giảm, do tân dịch hao tổn, hỏa bốc lên làm hại tam tiêu.

Thận là nơi tàng trữ âm dịch, là nơi tàng trữ tính hoa của ngũ cốc. Khi chân âm suy, thận không giữ được tinh hoa của ngũ cốc nên đái ra đường.

Nên dùng các vị thuốc bổ âm như: sinh địa, thục địa, huyền sâm, sa sâm, thiên mạch môn, thạch hộc, qui bản, a giao, kỳ tử, tang tầm (quả dâu), hoài sơn….

J – Nhuận phế:

Dùng các chất dưỡng âm, thanh phế nhiệt như: bố chính sâm, củ cải, bối mẫu, cúc hoa, thiên hoa phấn, tang phiêu tiêu.

K – Thanh vị nhiệt:

Phép trị là dưỡng vị sinh tán, dùng các vị đắng lạnh đế thanh vị hỏa: Ví dụ: mướp đắng, măng tre, ngọc trúc, sắn dây, lô căn, đậu ván trắng, ngó sen, giá đậu, cú đậu, củ tài.

Nguyên tắc chung: Phải luôn luôn theo dõi thận trọng, để tìm hiểu mỗi khi lên cân hoặc sút cân.

Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng